101+ Câu thành ngữ nói về sự nghèo khổ, sức mạnh đồng tiền

101+ Câu thành ngữ nói về sự nghèo khổ, sức mạnh đồng tiền
101+ Câu thành ngữ nói về sự nghèo khổ, sức mạnh đồng tiền
Ca dao, tục ngữ được coi là những vần thơ, ca từ bay bổng khiến ai cũng có những ý kiến ​​riêng về từng câu ca dao, tục ngữ. Ca dao và tục ngữ được ông cha ta sử dụng nhiều trong quá khứ và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay. Ca dao, tục ngữ nói về đủ thứ, mục đích là châm biếm, ca ngợi, khuyên nhủ… tùy theo ngữ cảnh. Bài viết này chúng tôi cũng đề cập đến một câu hỏi liên quan đến tục ngữ, những câu thành ngữ nói về sự nghèo khổ?

Những câu thành ngữ nói về sự nghèo khổ chọn lọc

1. Ông chẳng bà chuộc:

Trong một truyền thuyết xa xưa, một người nào đó đã đánh rơi một viên ngọc trai và cặp đôi này đã bắt được nó. Anh ta yêu cầu chuộc lỗi. Người vợ đồng ý “chuộc trước, chuộc sau”, còn người chồng thì “không chuộc”. Mối thù giữa hai vợ chồng Guchang, trong trí tưởng tượng của mọi người, đã tạo ra câu thành ngữ này, thể hiện sự không hợp nhau và không hợp nhau giữa người này với người khác. “Trống đi liền, kèn thổi ngược”, “gà trống nói vịt” và nhiều câu thành ngữ khác cũng thể hiện ý này.

2. Quan xa nha gần:

Xuân xa, làng gần. Bud là văn phòng của quan chức. Nha sĩ là cánh cửa. Nha là người làm quan. Trước đây, khi ra tòa người ta thường khó đòi tiền hơn. Do đó thành ngữ này.

3. Ra môn ra khoai:

Thành ngữ này có nghĩa là rõ ràng, rõ ràng. Sở dĩ có câu thành ngữ này là khoai môn và khoai môn rất dễ nhầm lẫn. Khoai môn là loại khoai có thân và lá dùng làm thức ăn cho lợn, củ có hình lưỡi cù, thân giống củ khoai môn. Thành ngữ này thường bị gọi nhầm là “từ ngô sang khoai”. Ngô và khoai không lẫn vào đâu được.

4. Rách như tổ đỉa:

Có người cho rằng tổ đỉa là tổ đỉa. Không ai biết đỉa có tổ hay không. Tổ đỉa trong thành ngữ này là cây tổ đỉa thường mọc ở bờ ao. Những chiếc lá của tổ đỉa giống như những chiếc lá bồ công anh trông lởm chởm và bị xé thành nhiều mảnh nhỏ. Vì vậy, ai mà ăn mặc rách rưới, người ta thường ví “hiếm như con đỉa”.

5. Rối như bòng bong:

Nếu quan sát một người đang ngồi đan thúng, chúng ta sẽ thấy những sợi tre mỏng dính vào nhau, quấn vào nhau rất khó gỡ ra. Đó là một bong bóng. Ta cũng có câu: rối như tơ vò, rối như canh cải, rối như lông gà, rối như tơ vò. Cụm từ “rối như bong bóng” dùng để chỉ một cảm xúc hoặc sự kiện khó làm sáng tỏ vì không thể tìm ra manh mối.

6. Sáng tai họ, điếc tai cày:

Có nghĩa là lười biếng, không chăm chỉ. Khi đang cày, người nông dân gọi “họ” và con trâu dừng lại ngay lập tức vì nó đang nghỉ ngơi. Nếu hô “bóp” thì phải kéo cày. Nguyễn Khuyến có câu trong bài “Giả ngu giả điếc”:

Có một người đàn ông giả vờ câm điếc
Lẫn lộn một cách thông minh, bối rối, bị coi là ngu ngốc
Không ai ngờ được: buổi sáng tai họ bị điếc và không thể nông nổi
Tôi muốn học kiểu điếc đó trong tương lai.

7. Sẩy đàn tai nghé:

Thành ngữ này dùng để chỉ sự chia lìa, tan nát của một gia đình, một nhóm khi người mất người đứng đầu, thành ngữ này có nguồn gốc từ đời sống chăn trâu. Đàn trâu luôn có những con đực đầu đàn để chống lại động vật hoang dã và bảo vệ cả đàn (thường có con cái và bê con). Nếu con đầu đàn bị mất, cả đàn bị phân tán vì bị thú rừng ăn dần. Phá thai là một từ cổ có nghĩa là mất đi, chết đi. Có câu tục ngữ: “Cha mất con, mẹ mất con”.

8. Sơn cùng thủy tận:

Đây là thành ngữ Hán (tận cùng, tận cùng), nơi cuối dãy núi, nơi cuối nguồn nước, dùng để chỉ nơi xa xôi, hoang vắng. Một thành ngữ khác đi sâu vào cốc cũng là để diễn đạt ý này. (Thâm Sơn là núi sâu, Lưỡng Bắc là tận cùng của động).

9. Sơn hào hải vị:

Hào phụ là món ăn quý được chế biến từ động vật rừng như gấu ngựa, cào nhung. Hải sản là những món ăn quý như bào ngư, hải sâm được đánh bắt từ biển… Thành ngữ này dùng để chỉ những món ăn sang trọng. Câu này gần giống nghĩa “cao lương mỹ vị” (cao là mỡ, lương là gạo trắng, ngon là ngon).

10. Sư tử Hà Đông – Giấm chua lửa nồng:

Những thành ngữ này đều được dùng để chỉ những người phụ nữ hay ghen. Hadong là nơi có nhiều sư tử ở Trung Quốc, sư tử cái thường bắt nạt sư tử đực. Bạn thân của Tô Đông Pha là ông Trần Quý Thường có một người vợ hay ghen. Tô Đông Pha viết ngay một bài thơ để đùa bạn bè, trong đó có dòng này:

Bắt kiến ​​Hedong, sư tử gầm thét
Quyền trượng được bao phủ bởi trọng tâm tự nhiên.
(Đột nhiên nghe thấy tiếng gầm của Hedong.

Chống nạng mà lòng anh hoảng hốt.

Vua của nước Tấn rất thích hai cung nữ này. Trước khi qua đời, nhà vua ra lệnh chôn cất hai cung tần mỹ nữ. Thái hậu rất ghen tuông nên trước khi chôn hai phu nhân vào cung đã đổ giấm vào quan tài khiến xác và xương tan gần hết, không thể hầu hạ vua được. Lửa nóng như thiêu đốt (nóng như hang đốt) của Hoắc Căng cũng thể hiện sự ghen tuông. Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh giải thích rằng Nhiệt là nơi lầu xanh (sống ở nơi oi bức). Truyện Kiều có câu tục ngữ: Giấm đốt được tội.

11. Sửa mũ vườn đào, sửa dép vườn dưa:

Khi đi qua Đào Viên, dù bạn có cởi mũ ra, không nhấc tay sửa thì sẽ bị ghi là hái đào. Khi băng qua ruộng dưa, dù hỏng dép, không cúi xuống sửa sẽ bị lập biên bản là ăn trộm dưa. Câu này có nghĩa là tình ngay thẳng, thúc giục chúng ta đề phòng để khỏi bị oan trái: Qua: dưa bở, dưa bở, như dưa hấu, dưa leo. Điền vào: trường. ly: Hoa huệ, cây mận. Xuống xuống. Thứ quá khứ: ruộng dưa. Lý Hà: Dưới cây hoa huệ. Câu thành ngữ trên đã nói lên tất cả: đỗ không, hạ thủ không chính xác. Đạo đức: Đi giày ở ruộng dưa không nên, dưới gốc cây huệ cũng không nên sửa nón.

12. Nằm gai nếm mật:

Câu này nói về sự kiên trì để đạt được những điều lớn lao. Vào thời Xuân Thu của Trung Quốc, Gou Jian là vua của Việt Nam, bị vua Phù Sai nước Ngô bắt và phải chịu đủ mọi cực khổ và tủi nhục. Khi được trả tự do, Tào Thiên thường nằm trên gai, thay vì ăn ngon, ông thường dùng tăm nhúng mật đắng để nhắc nhở bản thân không quên mối thù xưa. Sau hai mươi năm chuẩn bị, Goujian trả thù và đánh bại Ngô Phù Sai.

13. Năm thì mười họa:

Trong tiếng Việt, nó còn được phát âm là “time” (nghĩa là thời gian, quá khứ). Ví dụ: khi tôi còn nhỏ, khi tôi là một cô gái, bốn lần, thời gian, thời tiết. Hoa là một từ thuần Việt có nghĩa là ít hoặc không có gì. Ví dụ:

Sắc phải có một, tài ắt có hai (Truyện Kiều)

Vào sinh ra tử có gặp nhau (Truyện Kiều).

Không được nhầm lẫn với các ký tự Trung Quốc. Họa là họa (họa), họa là ứng (họa thơ), họa là tai họa (họa không riêng). Thành ngữ “năm lần mười” có nghĩa là thỉnh thoảng, chỉ thỉnh thoảng:

Năm là mười, thật tuyệt phải không?
Vài lần một tháng hoặc không (He Xuanxiang).

14. Ngựa quen đường cũ:

Thành ngữ này vốn xuất phát từ câu thành ngữ “Thất mã” của Trung Quốc. Tại sao lại có câu thành ngữ này? Có một câu chuyện xưa: Tề Hưu Tông đi chinh phạt nước Chu. Đó là mùa xuân khi quân đội rút lui, và mùa đông khi họ quay trở lại, bị bao phủ bởi băng và tuyết, bị mất. Vị tổng trấn nói: “Bệ hạ, ngựa già có trí nhớ, hãy để ngựa già dẫn đường.” Chắc chắn ngựa đã tìm được đường về nhà. Trong quá khứ, thành ngữ này được hiểu là những người có kinh nghiệm có xu hướng rất quen thuộc với mọi thứ. Ngày nay, thành ngữ này có nghĩa xấu và được dùng để chỉ những người không chịu phá bỏ thói quen xấu.

15. Nguồn đục thì dòng không trong, gốc cong thì cây không thẳng:

Câu này có cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen thì ai cũng hiểu: có nguồn thì cội mới thẳng, gốc có thẳng thì cây mới mọc thẳng được. Nhưng ý nghĩa ẩn dụ mang ý nghĩa giáo dục con người. Trong gia đình, cha mẹ phải làm gương tốt cho con cái. Nếu cha mẹ làm những điều không tốt (nguồn gốc bị đục, nguồn gốc quanh co), con cái sẽ có thói quen xấu. Có một câu châm ngôn mỉa mai:

Con trai, nghe lời bố
Ăn trộm qua đêm bằng ba năm làm việc.

Nếu bố bạn tệ như vậy, bạn cũng sẽ là một tên trộm. Trong gia đình, cha mẹ hãy sống tốt đời đẹp đạo, làm gương cho con cái.

16. Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò:

Đây là một thành ngữ trong ngành gốm sứ. Để có một sản phẩm tốt phải chú ý đến 3 yếu tố: xương, da, cám. Xương là chất mài mòn tạo hình sản phẩm, da là lớp men dùng để tráng bên ngoài sản phẩm (có hàng chục loại men tạo ra màu sắc khác nhau), còn lò nung là nhiệt của lửa. Một số người còn giải thích lò nung là hình dạng của một cái lò nung. Lò nung phải được kết cấu sao cho khi nung, nhiệt lượng phân bố đều thì sản phẩm mới đẹp.

Xem thêm :  CÁC QUY LUẬT BỐ CỤC HÌNH KHỐI KHÔNG GIAN CỦA CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

17. Nhũn như chi chi:

Thành ngữ này thường được dùng để chỉ thái độ e ngại, khiêm tốn trước mặt người khác. Kiki là một loài cá nhỏ với thân hình rất mềm mại. Phần chi được vớt lên khỏi mặt nước, chỉ sau một tiếng đồng hồ đã mềm nhũn, thân thể nát bươm. Chichi rất hợp với nước mắm vì nó nấu nhanh. Theo nghĩa đen có nghĩa là khiêm tốn (hỏng) và được dùng với nghĩa khiêm tốn để chỉ một thái độ của con người.

18. Nổi cơn tam bành:

Thành ngữ này có nghĩa là tức giận và làm những điều xấu:

Tôi nghe nói cô ấy là người mới
Nó chỉ hiển thị bây giờ.

(Chuyện của Kew)

Theo lý thuyết của Đạo giáo, trong con người có ba vị thần ác: Pengqiao, Pengju và Pengcha. Ba điều này thường cám dỗ chúng ta làm điều ác.

19. Nghèo rớt mùng tơi:

Khi chúng tôi nấu súp wasabi, lá có rất nhiều giọt (dính) trong đó, vì vậy khi chúng tôi múc súp vào bát, súp rất mượt mà và không dính chút nào. Nghèo là nghèo, nghèo, không có tài sản. Thành ngữ này cũng có một cách hiểu khác. Phần lưới là phần trên của áo (phần dày nhất và được may nhiều nhất). Áo dài thường được làm từ lá cọ hoặc lá cây. Cái áo rách, cái lưới vẫn còn, đến lúc không còn tiền mua áo khác chứng tỏ tôi nghèo.

20. Nói nhăng nói cuội:

Nói dối và vô nghĩa là những điều vô nghĩa, vô tích sự và những thành ngữ nói hươu nói nai. Cuội là một từ cổ có nghĩa là tán tỉnh nhau giữa những quả cam … Cuội là một nhân vật trong truyện dân gian được biết đến với tên nói dối (nói dối như cuội). Những người khác cho rằng thành ngữ này là “vô nghĩa” (John là mặt trăng, có nghĩa là xa vời, không có thật). Dù bằng cách nào thì ý nghĩa cũng giống nhau.

21. Nồi da nấu thịt:

Người thợ săn muốn ăn thịt giữa rừng, nhưng không có nồi. Họ thường lột da con vật và căng ra để làm nồi để nấu thịt con vật. Câu này nói lòng ruột thịt thương nhau máu mủ, chẳng khác gì câu luộc đậu.

22. Nợ như Chúa Chổm:

Chum Chum tên chính là Lê Ninh. Thời Mack cướp ngôi nhà Lê, anh là công tử nhưng anh minh. Tuy nhiên, nếu anh ấy mở nhà hàng ở thủ đô, nó sẽ rất nổi tiếng. Do đó, nhiều nhà hàng đã mời anh ta dùng bữa bằng thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. Khi lên làm vua, (tức vua Lê Trang Tông), chủ quán đến đòi nợ. Vua ra lệnh mở chức để trả nợ, nhưng do giả người đòi nợ nên việc trả nợ vẫn chưa xong. (Theo truyền thuyết, khi vua đi dạo phố Jinchi, không ai được đi theo để đòi nợ) (Phố Jinchi, điểm đầu phố Hàng Bàng, gần Cửa Nam ngày nay).

23. Nuôi o­ng tay áo:

Thực tế, không ai đứng về phía ong, vì ong rất dễ đốt. bee được dùng ở đây để chỉ kẻ xấu. Nó có nghĩa là: nuôi dưỡng và giúp đỡ những người xấu, và những người xấu đôi khi phản bội chúng ta và làm tổn thương chúng ta. Tuy nhiên, nó không nên được hiểu như một cách. Thực tế, những người xấu cũng cần được giúp đỡ và giáo dục để trở thành người tốt. Xã hội của chúng ta đã biến rất nhiều người xấu thành người có ích. Cụm từ này chỉ được sử dụng khi người đã nuôi dưỡng và giúp đỡ đã bị phản bội.

24. Nước đục bụi trong:

Câu thành ngữ này nói lên điều trái ý, trái ý, trái lòng người: nước trong có ma thì đục, bụi trong thì đục. Ví dụ:

Miss Yinshui Village
Một tấm lòng trăm năm bắt đầu từ đây.

(Câu chuyện của Joe)

Có câu ca dao ta có câu: “Thà chết trong bể”, câu này khuyên chúng ta nên sống thanh bạch, thà chết chứ không làm những việc vô lương tâm, bất lương.

25. Lá lành đùm lá rách:

Câu tục ngữ có hai mặt đối lập: lá lành đùm lá rách. Lá lành cho biết con người sống cuộc sống sung túc, thịnh vượng. Lá gãy chỉ sự nghèo khó. Từ lá bưởi còn hàm ý về vật chất, vì trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường dùng lá cây để làm cơm, bánh, xôi. Từ ôm cũng ngụ ý chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ. Câu tục ngữ này khuyên chúng ta nên quan tâm và giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày và khi chúng ta gặp khó khăn. Câu này cũng nói lên đạo lý tốt đẹp của ông cha ta.

26. Lật đật như sa vật ống vải:

Cụm từ này thường bị gọi nhầm là “hào nhoáng như một con quái vật”. Cụm từ có nghĩa là lên án sự hấp tấp và vội vàng. Khi dệt vải, chúng tôi sử dụng ống cuộn để kéo sợi, và ống cuộn bông sử dụng đầu quay để kéo sợi. Có một ống vải quấn sợi ở chỗ ngoặt. Đầu máy quay thường làm cho ống vải bị rung.

27. Lệnh ông không bằng cồng bà:

Lệnh và chiêng là hai nhạc cụ bằng đồng dùng để báo hiệu. Một số người nói rằng câu này xuất hiện từ cuộc khởi nghĩa Baqu. Ông Triệu Quốc Đạt là anh trai nhưng lại không được mọi người tin tưởng và yêu mến như bà Triệu Thị Trinh. Mỗi khi nghe thấy tiếng cồng của Butrier, binh lính từ khắp nơi lại tụ tập dưới lá cờ. Ngày nay, cụm từ này được dùng để chỉ một gia đình trong đó người vợ có quyền lực hơn người chồng.

28. May xống phải phòng khi cả dạ:

Câu này khuyên chúng ta nên nhìn xa trông rộng và tính toán trước mọi việc. Bên dưới là váy. Khi may quần áo người phụ nữ phải tính toán sao cho bụng to (kể cả bụng bầu) vẫn có thể mặc được khi mang thai.

29. Mỏng mày hay hạt:

Thành ngữ này thường dùng để chỉ người phụ nữ có khuôn mặt hiền hậu, dáng chuẩn, eo thon. Cỏ thi và hạt giống do người nông dân lựa chọn. Bạn là lớp vảy dính ở dưới cùng của hạt gạo, hạt ngô. Khi mỏng ra, hạt chắc và là hạt tốt nếu được sử dụng. Từ đó, người phụ nữ gầy gò hay kê cũng hứa hẹn sẽ phát triển một giống nòi tốt trong tương lai, bên cạnh những đức tính khác như dũng cảm, tháo vát. Cũng có một câu tục ngữ:

Không cần biết đôi chân của bạn đắt tiền đến đâu, bạn vẫn có thể mua được chúng

Fan Liuhai không được trả lời,

Hoặc câu: căng da mặt, dày đốm, túi bọt đuôi. (Khuôn mặt gầy là một khuôn mặt có nhiều thịt, cho thấy người không thông minh), và bài thơ này:

Người béo tròn và béo,
Ăn câm như chớp đánh bạn cả ngày.

(Trục mỡ tròn ngược với trục ong).

> Bài viết liên quan:

30. Một đồng một cốt:

Vì mê tín dị đoan, ông bà Trung Quốc và nước ngoài thường triệu tập các vong linh, săn ma, tổ chức lễ giải hạn, cúng sao giải hạn. Họ dùng nhiều thủ đoạn để lừa gạt. Thành ngữ này ám chỉ người chuyên nói dối:

Bộ lặp sẵn sàng sử dụng
Thật là một đồ đồng cũ kỳ lạ.
(Truyện Kew).

31. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ:

Câu này nói về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Để khuyên răn đạo lý, ông cha ta thường mượn câu để nói với mọi người: “Gà mái không lúc nào chọi với nhau”. “Ngựa ốm” có nghĩa là một người đang cần. Tất cả các con thuyền đều bỏ cỏ để thể hiện sự đồng cảm với đồng loại của mình, và tất cả những con ngựa trong chuồng không gặm cỏ để thể hiện sự thương cảm. Nó không giúp đỡ, nó quan tâm. Nói một cách bình dân, cả thuyền cũng cho rằng, cả làng, cả nước hãy thương nhau, cùng ăn cam, chịu khó, chia ngọt sẻ bùi.

31. Muôn chung nghìn tứ:

Đồng hồ là ngăn kéo, đơn vị dùng để đo mét. Thứ tư là cỗ xe tứ mã. Câu này có nghĩa là vua phục vụ tướng quân, lương thực cây số, trong nhà có hàng nghìn cỗ xe.

biết tôi trong một từ
Có nhau thì dù muốn (Truyện Kiều)

32. Học ăn, học nói, học gói, học mở:

Đây là một câu thành ngữ khuyên người ta học cách làm người ở đời và trở thành người biết chữ.

Ăn cũng nên học ăn như “nhìn thấy nồi mà ngồi mới hướng mà ăn”. Đối với trẻ em, không lắc bát đĩa trong khi ăn. Nhiều trẻ quằn quại hoặc cựa quậy khi nhai do hàm trên xuống hàm dưới phát ra tiếng kêu do nhai cùng lúc cả hai hàm. Trẻ nên được huấn luyện để chỉ sử dụng một hàm khi nhai.

Nói cũng phải học cách nói lễ phép, lịch sự. “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Những ngày này, chúng ta thường gặp rất nhiều cô gái và chàng trai ăn mặc thô tục nhưng nói năng thô tục. Chỉ cần nghe những gì chúng tôi nói, chúng tôi biết nó vô văn hóa. Ở vùng đất kinh kỳ đó, việc học gói mở đầu theo nghi thức cũng rất khó. Ở Hà Nội xưa, một số gia đình giàu có thường gói mắm trong lá chuối xanh và cho vào một cái chén xinh xắn trên mâm. Người gói nem phải khéo léo, người ngồi ăn phải biết cách mở để nước chấm không bị tràn ra mâm …

Xem thêm :  99+ Mẫu báo tường 20/11 đẹp và cách làm báo tường đơn giản

Bây giờ ít người biết cách quấn boong đồng hồ cho sắc nét, bạn phải học kỹ khi mở bánh (bóc bánh).

Thậm chí có người còn hiểu câu trên một cách rất chung chung, cho rằng khó mở gói hàng nhất khi viết:

Văn chương không dài
Ngay khi tôi đọc phần mở đầu, tôi đã biết cách viết này rất hay.

Gói bài (kết luận) như thế nào để người đọc vẫn thấy dư âm và để lại ấn tượng sâu sắc là điều không dễ.

33. Kẻ ăn rươi, người chịu bão:

Cứ vào khoảng tháng 9 âm lịch hàng năm, giống sóc lại xuất hiện trên những ruộng lúa chua mặn vùng ven biển. Mọi người quây quần làm thức ăn (chả ruốc, mắm ruốc). Nhưng mùa này cũng có bão gây hại, (có người lý giải là mùa này bão vào dễ đau lưng). Câu này nói về sự bất công: kẻ ăn, kẻ khổ.

34. Kẻ tám lạng, người nửa cân:

Cân và vảy ở đây là vảy cũ của chúng ta. Có 16 lượng trong một pound (tương đương 605 gam), và một ounce bằng 1/10 trọng lượng của 37,8 gam. Vì vậy, nếu chúng ta cân bằng quy mô của mình, nửa pound là tám lạng, và tám ounce là nửa pound.

Thành ngữ này trong tiếng Việt thường dùng để chỉ sự so sánh sức mạnh ngang nhau giữa hai phe, hai đấu thủ ngang tài ngang sức, không ai thua kém phe kia.

35. Kết cỏ ngậm vành:

Thành ngữ này thể hiện lòng biết ơn:

Dám cảm ơn bằng xương bằng thịt
Thêm cỏ cuối cùng sẽ đến (Truyện Kiều)

Đây là hai truyền thuyết cổ đại của Trung Quốc:

Ông Ngụy, kẻ thù của nhà Tần, có nhiều thê thiếp đẹp. Theo phong tục của Tần Phong, sau khi chồng chết, thê thiếp phải được chôn cất cùng chồng. Tuy nhiên, Ngụy Cao, con trai của Ngụy Thư, có tấm lòng nhân hậu nên đã không tuân theo tục lệ này. Sau nhà Ngụy, ông nên trở thành tướng của nước Tần và chống lại nước Tấn. Tan Fang có tướng Đỗ Hồi rất giỏi. Trong trận giao tranh hôm đó, ngựa của Dư Hải vướng vào cỏ, Dư Hải ngã ngựa, bị Ngụy Kình giết chết. Đêm hôm đó, Ngụy Cao nằm mơ thấy cha của người thiếp đến cảm tạ và nói: “Cảm ơn người đã không chôn sống con tôi, nên đã làm cỏ khiến Dư Hải ngã ngựa”..

Yangba của triều đại nhà Hán đã bắt được một con chim sẻ bị thương khi mới chín tuổi. Ba đã chăm sóc con chim cho nó khỏe mạnh và thả nó đi. Sau đó con chim lấy bốn vòng tròn bằng ngọc trai trắng để nói lời cảm ơn.

36. Gái thương chồng đương đông buổi chợ – Trai thương vợ nắng quái chiều hôm:

Có một số cách giải thích về câu tục ngữ này. Sở dĩ như vậy vì hai chữ “giữa chợ” và “xế chiều” được hiểu khác nhau nên có nhiều cách hiểu. Dưới đây là một số cách để hiểu nó:

1. Hãy hiểu đây là lời khuyên và đừng chỉ trích bất kỳ ai. “Thành phố mùa đông” được hiểu là tuổi trẻ đầy quyến rũ của nữ giới, được nhiều chàng trai để ý. Tình yêu của chồng thể hiện rõ khi cô còn xinh đẹp, được nhiều người để ý nhưng vẫn chung thủy với chồng. “Nắng chiều” được hiểu là người con gái khi nhan sắc tàn phai, được người chồng khuyên nên chung thủy ngay cả khi vợ đã già.

2. Hiểu câu này, khách quan hãy thể hiện mức độ tình yêu nam nữ, đừng chê bai ai. Hãy hiểu rằng tình yêu của đàn bà đầy đặn và mặn nồng như chợ đông, còn tình yêu của đàn ông thì bồng bột, rực rỡ nhưng cũng nhạt nhòa như nắng chiều.

3. Hiểu câu một cách phê phán. Tình yêu của đàn bà bền chặt và mãnh liệt như buổi sáng giữa chợ đông người. Tình yêu của đàn ông chỉ là thoáng qua, vụt tắt nhanh như một buổi trưa nắng.

Cho đến nay, vẫn có những cách giải thích khác nhau, và có thể còn nhiều hơn thế nữa. Chúng tôi không có cơ sở để lựa chọn và xác nhận.

37. Gần nhà giàu đau răng ăn cốm – Gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn:

Người Trung Quốc rất coi trọng tình láng giềng: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Nhưng hàng xóm “giàu có”, “đạo chích” thì lo cho hàng xóm. Cụm từ này được hiểu là “tiếp cận một phú ông đau như đau răng và nhai cốm vàng, và tiếp cận một tên trộm đau như bị ốm và phải đánh đòn”. Tại sao ? Những người hàng xóm giàu có thường không thích giao tiếp với những người hàng xóm nghèo, vì vậy họ ít giúp đỡ nhau khi đám cháy. Ở gần có kẻ trộm dễ bị trộm hoặc có khi bị đánh oan. Câu này gợi ý rằng chúng ta nên chọn một người hàng xóm để ở. (Người ta cũng giải thích rằng những người giàu có trong khu phố bị đau răng do ăn uống, một lời giải thích vô nghĩa.)

38. Già kén kẹn hom:

Trong sách thành ngữ có giải thích tình yêu mất làng là do kén cá chọn canh. Trong bài Tục ngữ của Lê Văn Hòe được giải thích như sau:

Quá cầu kỳ là quá cầu kỳ, quá cầu kỳ. Chông hom có ​​nghĩa là duỗi ra xương, nghĩa là già yếu mà nâng xương. Câu này có nghĩa là: kén chọn quá, ông già sẽ chết.

Giải thích trên là đúng. Nhưng cụm từ này ban đầu là “một cái kén già cỗi” và chỉ được ghi lại là bị chặn trong từ điển của Gensibrel (1893), được dịch trong tiếng Pháp là serrer (có nghĩa là xương bị chặn). Điều này có nghĩa là khi bạn lớn tuổi, kén chọn, kết hôn muộn (về hưu) và dễ mắc bệnh tâm thần phân liệt. Một số bác sĩ cho biết, tâm thần phân liệt là bệnh khi sinh ra đã bị chặt xương – nếu không nở ra sẽ khó sinh, cả mẹ và con dễ tử vong. Vì vậy, một cách điều trị bệnh tâm thần phân liệt trước đây là làm cho dây chằng dễ bị giãn ra trong quá trình chuyển dạ. Nếu hiểu theo cách này, câu thành ngữ nhằm khuyên phụ nữ không nên quá kén chọn, kẻo dễ gây nguy hiểm đến tính mạng của chính mình.

Có những cách giải thích khác cho thành ngữ này, chẳng hạn như: cái kén là kén tằm (danh từ), và nếu kén bị bướm (kén) cắn thì tơ sẽ khó kéo ra. Cách hiểu này khác xa với cách hiểu thông thường của chúng ta.

39. Giấy rách phải giữ lấy lề:

Trong quá khứ, các sách của Nho giáo có một lề ở gáy để buộc các tờ giấy lại với nhau. Khi viết nên để trống lề, rộng khoảng 3cm theo chiều dọc. Trong sách, lề là gốc, và nếu lề bị hỏng, cả cuốn sách sẽ mở ra. Ngay cả khi giấy bị rách, phần gốc vẫn cần được bảo quản. Thành ngữ này gợi ý rằng chúng ta nên tuân thủ các truyền thống và quy ước của gia đình. Trong “Đất có duyên, làng có lệ”, chữ duyên đã được mở rộng để chỉ những phong tục tốt đẹp.

40. Gió táp mưa sa:

Thành ngữ này có hai nghĩa: nghĩa hẹp là dùng để chỉ những gian khổ của cuộc đời. Nhưng trong văn học, gió mưa thường được dùng để chỉ những người có tài làm thơ, bài thơ tứ tuyệt làm mưa làm gió, vì có câu “Phong vũ cản bóng tứ” (tứ phi như gió mưa).

Bàn tay của gió thổi mưa
Nửa đầu dừng chữ thảo và bốn câu. (Chuyện của Kew)

41. Gương vỡ lại lành:

Thành ngữ này có nghĩa là hàn gắn, đoàn tụ, thay đổi cuộc sống từ xấu thành tốt. Một truyền thuyết xưa kể lại rằng: Du Deang đem lòng yêu công chúa Yuexiong, nhưng vì bối rối mà hai người phải xa cách. Họ chia đôi chiếc gương và mỗi người cầm một nửa. Sau đó, khi Dern đến Bắc Kinh, anh ta thấy một người nào đó đang bán ống kính bị hỏng. Nhờ manh mối đó, Đức đã tìm được người yêu, hai mảnh ghép lại thành một chiếc gương cũ.

Bây giờ gương vỡ đã được chữa lành
Phải có một nơi cho sự lừa dối thần thánh. (Chuyện của Kew)

42. Da mồi tóc bạc:

Thành ngữ này được dùng để mô tả những người lớn tuổi. Tóc bạc là tóc trăng bạc. Da của con mồi có đốm, thường có màu nâu giống như mai của rùa. Rùa thuộc họ Rùa, có hoa đẹp, có thể dùng làm lược hoặc kẹp tóc.

Tóc xoăn hình vỏ rùa
Chải đứng, chải ngồi, uốn xoăn vẫn hoàn hảo. (dân gian)

43. Dốc bồ thương kẻ ăn đong:

Người nông dân thường cho lúa vào bầu. Độc Bộ là nhà không có cơm. Có như vậy tôi mới thích những người đong gạo hàng ngày. Nghĩa là nếu cùng cảnh ngộ thì thương nhau, dễ thông cảm cho nhau.

44. Dốt đặc cán mai – Dốt có chuôi:

Hoa mận là một công cụ để đào đất. Tay cầm của quả mơ thường được làm từ quả mơ, một loại gỗ rất cứng để tay cầm không bị gãy khi mắc kẹt dưới đất. Như câu nói lòng gần như hoa mai, không chỗ nói nên lời. Sự ngu dốt có một cái tay cầm (sự ngu dốt có một cái đuôi) từ một truyền thuyết cổ xưa. Một nhà sư được mời đến để thờ một vị sư phụ tên là Tròn. Tôi không biết làm thế nào để viết một hình tròn, vì vậy tôi đã làm một hình tròn. Ai đó đã tinh nghịch thêm một nét vào Beidou. Vỏ dừa thường có cán để giữ. Khi cúng dường, vị thầy đã niệm tên Beidou khiến vị sư phụ tức giận.

Xem thêm :  Top câu đố chữ cái cho trẻ có đáp án hay nhất 2022

45. Đanh đá cá cày:

Thành ngữ này có nghĩa là bướng bỉnh, cứng đầu, không thua kém ai. Cá cày là một loại cá (làm bằng tre hoặc gỗ, to bằng cán dao và có hình dáng giống con cá) dùng để nâng lưỡi cày lên xuống khi muốn cày nông hay sâu. Cá chép diếc tuy nhỏ nhưng có thể chèo lái máy cày.

46. Đánh giáp lá cà:

Câu này được mọi người hiểu là một cuộc đối đầu trực diện, hai bên sát cánh trong tay. Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức giải thích nghĩa trận: “Quân hai bên xông vào chém nhau”. Từ giáp ngày nay vẫn được dùng: hai ngôi nhà ở cạnh nhau. Hai người đối mặt với nhau.

Nhưng lá cà chua là gì? Có người giải thích: Trước đây, trên áo sơ mi của tôi có sử dụng rất nhiều chữ. Lá sen là lớp đệm bên trong vai áo để tạo độ bền. Tấm vải có hình lá sen. Lá xoài là bông quấn quanh cổ và tỏa xuống vai. Những người khiêng ghế sedan, cáng thường ăn lá xoài để đỡ đau vai, rách áo. Lá ca cao là một phần của võ phục. Loại này có một trái tim bằng đồng che ngực và một mảnh hoa cà che bụng và đũng quần. Mảnh có hình dạng giống như lá cà chua. Trong trang phục lễ hội, các nghệ nhân gọi nó là lala. Giao tranh tay đôi trực diện, hai tướng có quân bài gần giống nhau.

47. Đánh trống lảng:

Khi tế, khi tế rượu, các thầy tế lễ (trai tráng, người phục vụ) phải theo điệu nhạc và nhịp trống, chậm rãi từng bước từ sân đình vào phủ. Khi từ cung trở về, các thầy cúng phải đi rất nhanh theo nhịp trống gọi là trống thúc (giục giã). Sau đó, cụm từ thoát được sử dụng để chỉ một người nào đó đang nghe một điều và sau đó thốt ra một điều khác, hoặc bỏ đi để tránh làm tổn thương bản thân.

48. Đánh trống lấp:

Trong lễ tế, khi tụng bài cúng, vì kiêng tên thần nên người đọc chỉ niệm trong miệng. Tuy nhiên, ông sợ người ngoài biết tên mình nên khi xướng tên và danh hiệu của Chúa, người đánh trống đánh vài lần, che giọng người đọc. Những chiếc trống lúc bấy giờ được gọi là trống phụ. Ngày nay, thành ngữ này thường được dùng để chỉ việc kể lại vội vàng nhằm che đậy câu chuyện chính hoặc che đậy lỗi lầm của bản thân.

49. Đánh trống qua cửa nhà sấm:

Đây là câu thành ngữ có nguồn gốc từ điển tích của Trung Quốc, có nghĩa là: nhà nghèo không nên vào cửa người tốt, tương tự như thành ngữ “đừng bơi tranh giải” (giải là loài bò sát lớn thường sống ở các đầm phá. và bơi nhanh). Theo tích xưa, Ngô Phù Sai lập đô ở Cô Tô, xây thành Xa Môn (cửa Rắn) để trấn áp dân tộc Việt Nam. Người Việt bắt Raymond (Le Mẫu) để chống trả. Bất cứ khi nào có tiếng trống lớn trước cửa nhà Lem, cửa Chamon mở ra ngay lập tức để phát hiện chuyển động.

50. Đèo heo hút gió:

Thành ngữ này dùng để chỉ nơi hoang vắng (vào nơi heo hút gió lùa). Nhà văn Nguyễn Công Hoan giải thích cho tôi như sau: Cái “đèo Neo thở” là méo. Trước đây, quốc lộ từ Thăng Long đến Nam Viên phải đi qua đèo Neo (nay là đèo gần thị xã Bắc Giang). Những người được gửi đến Trung Quốc, thậm chí cả người thân và bạn bè, chỉ đến Neoguan, gọi rượu để tiễn, sau đó quay trở lại. Sứ giả phải đi bộ qua con đường rừng hoang vắng mới đến được cổng thành.

Ngoài Renren Niotong (danh từ riêng), nhà văn Ruan Gonghuan cũng cho rằng: Luton trong ca dao: “Ba năm Luton” cũng là một danh từ riêng. Trong cuộc chiến giữa Trịnh và Nguyên, chúa Trịnh đã thiết lập một đồn binh lớn ở phía bắc sông để canh giữ. Lưu Đồn nay là một địa danh thuộc tỉnh Quảng Bình.

51. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn:

Câu tục ngữ này gợi ý rằng chúng ta nên học hỏi trong cuộc sống thực tế. Lời khuyên này thật đáng quý và sâu sắc. Bầu trời là về thời gian, và con đường là về không gian. Một ý nghĩa bao trùm mà Thiên Hà tạo ra là bước vào đời để học hỏi những kiến ​​thức trong cuộc sống, nâng cao và mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết của bản thân. Tại sao lại là sàng khôn chứ không phải rổ khôn, khôn? Nếu ý tưởng là đơn giản, nó sẽ phù hợp với cách thức. Nhưng để hiểu những gì đã sẵn sàng? Sàng là một dụng cụ đan bằng tre, có hình tròn như cái đĩa, nông và thưa. Ở quê, nhà nào cũng có một cái sàng, sau khi vo gạo xong, cái sàng được dùng để loại bỏ trấu và cám, chỉ còn lại phần cơm. Vì vậy, trong cuộc sống, bạn không cần phải xem tất cả mọi thứ để học bởi vì cái tốt và cái xấu. Chúng ta phải lọc và chỉ học những cái tốt và thông minh.

52. Đổi thay nhạn yến:

Thành ngữ này dùng để chỉ một năm. Vào mùa đông, nhạn biển (hay én đỏ) thường di cư về phía nam để trốn giá lạnh. Vào mùa xuân, chim yến (chim én) bay về. Thành ngữ này tương tự như thành ngữ từ mùa đông đến mùa xuân. “Chim én hóa già.” (Truyện Kew).

53. Đồng không mông quạnh:

Thành ngữ này dùng để chỉ nơi vắng vẻ, vắng lặng khiến ta cảm thấy cô đơn (không vắng vẻ, vắng vẻ vắng vẻ). Trong thành ngữ trên, đồng là danh từ (miền), nhưng mông cũng là danh từ mới, có tính chất đối xứng theo cấu tạo chung của thành ngữ. Tiếng Việt xưa, mông là không gian mở. (Ở khu vực Yijing, từ này vẫn còn trong phương ngữ).

54. Đố ai gánh đá vá trời, đan gàu tát biển, ghẹo người cung trăng:

Trong câu này có ba thành ngữ: nâng đá lấp trời, dệt nòng bắn biển, trêu trăng sáng. Cả ba thành ngữ đều nói không thể. Không ai có thể đứng trên bầu trời như Nữ Oa trong thần thoại Trung Quốc. (Thuở sơ khai) bầu trời còn thủng lỗ chỗ, Nữ Oa đã trồng những viên đá đủ màu sắc để lấp đầy bầu trời. (Trích sách Hoài Nam Tử). Giống như nước biển, nếu bạn vỗ nó bằng một cái xô, bạn vỗ nó cho khô. Người trăng chỉ treo Ya thì làm sao mà trêu được. Những câu thành ngữ này khuyên chúng ta không nên làm những điều viễn vông, không tưởng. Để thành công trong cuộc sống, bạn cần phải thực tế.

55. Đơn thương độc mã:

Súng là súng và ngựa là ngựa. Thành ngữ này có nghĩa đen là ngọn giáo của con ngựa và được dùng để chỉ một người, một người đang chiến đấu chống lại những khó khăn nguy hiểm mà không có sự hỗ trợ của người khác

56. Đơm đó ngọn tre:

Nó là một công cụ đánh cá mảnh mai với miệng nhọn mà cá không thể chui vào. Nó phải được đặt ở nơi có nước chảy. Đầu tre không có cá. Câu này chế giễu những người mong đợi điều không thể.

57. Đứng mũi chịu sào:

Khi thuyền vượt qua ghềnh, người đứng mũi thuyền, tay cầm chèo, đóng vai trò quan trọng và phải chịu đựng gian khổ, nguy hiểm. Theo nghĩa này, biểu hiện của người đứng đầu câu lạc bộ cho thấy rằng công việc là quan trọng, gánh vác những trách nhiệm nặng nề và làm việc chăm chỉ vì lợi ích chung. Trong ca dao có câu:

Hai chúng tôi lên xuống thác ghềnh
Tôi đứng lên và vác sào cho bạn.

Phải hiểu rằng, vợ chồng cùng nhau nhọc nhằn, cùng thuyền, cùng thuyền thì giúp nhau.

58. Đường vòng hay tối, nói dối hay cùng:

Đó là một chặng đường dài để đi, và đôi khi trời tối trước khi nó đến. Nói dối thường có hồi kết, và bế tắc không còn lừa được ai. Câu này khuyên chúng ta nên đi đúng đường và đừng đi lạc hướng.

59. Cạn tàu ráo máng:

Máng là dụng cụ đựng thức ăn cho lợn, gia súc (máng phải đậy kín không để thức ăn loãng chảy ra ngoài). Thuyền cũng là công cụ để chứa cỏ cho ngựa và voi (sau này thuyền được mở rộng để cung cấp chuồng cho voi và ngựa chỉ).

Thành ngữ ban đầu chỉ sự thiếu chăm sóc của gia súc do thiếu thức ăn trong hộp đựng và máng ăn. Về sau, thành ngữ này ám chỉ sự đối xử tàn nhẫn và thiếu thốn tình cảm giữa con người với nhau (sống với nhau thì mệt).

60. Cầu toàn trách bị:

Thành ngữ này có nghĩa là đầy đủ, trọn vẹn, không thiếu thứ gì. Mong muốn này khó đạt được trong thực tế. Vì vậy, người ta thường nói “đừng cầu toàn”. Cần: Hy vọng, Muốn; Đổ lỗi: Cần; Hoàn thành, Bị: Hoàn thành, Hoàn thành (Ví dụ: Anh ấy là người cầu toàn trong mọi việc anh ấy làm)

Trên đây là bài viết những câu nói hay về giàu nghèo, nợ nần, nghèo khó? dleroisoleiltayho.com mong rằng qua bài viết này vforum có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về ca dao, tục ngữ Việt Nam.

100 câu nói cực hay châm biếm sâu cay về cuộc sống ngày nay Vừa nghe Vừa Ngẫm