Thủ Thuật

Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của hồ xuân hương

Rate this post

Rate this post

Không còn mấy điều được biết một cách đúng như thật về cuộc đời bà. Những tài liệu thực tế giống như những tài liệu được lưu giữ ở phương Tây vào thời của Shakespeare gần đây mới có ở Việt Nam. Phần lớn tiểu sử của bà đều được suy ra từ thơ ca của bà. Quả thực, cứ cho là thiếu những sự kiện rõ ràng và có những điều thường không đúng về thơ bà, một số độc giả đã biện minh rằng bà chưa bao giờ tồn tại mà chỉ là sự sáng tạo hư cấu của các nho sĩ nào đó, một loại biện luận kiểu Earl of Oxford (kiểu biện luận mà một số học giả cho rằng nhà thơ và nhà viết kịch Edward de Vere thế kỉ 17 (1550-1604) mới là tác giả thực của các vở kịch của Shakespeare. Phần lớn những người nghiên cứu Shakespeare đều không coi đây là điều nghiêm chỉnh.) Nhưng quá nhiều bằng chứng tiểu sử dầy đặc nổi lên từ những bài thơ đó để chứng tỏ điều này là không đúng, cùng với cách nhìn quen thuộc của bà vào mọi thứ và cả loạt những cách chọn từ duy nhất.

Các học giả nói chung đồng ý bà xuất thân từ gia đình họ Hồ tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ở giữa miền bắc Việt Nam(Về thảo luận đầy đủ xin xem Hoàng Xuân Hãn, “Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long,” trong cuốn La Sơn Yên Hồ của ông Tập III (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998), trang 897 và 930.). Họ bất đồng về bố của bà, là nhà nho Hồ Sĩ Danh (1706-1783) hay Hồ Phi Diễn (1703-1786). Mẹ bà, có tên là Hà, là vợ lẽ, tức là vợ thứ hai, hay hầu thiếp, mặc dầu là hầu thiếp đẳng cấp cao. Hồ Xuân Hương có lẽ được sinh ra vào khoảng giữa 1775 và 1780, hoặc ở làng Quỳnh Lưu hoặc làng Khán Xuân, bà được chôn theo bây giờ ở quãng vùng đang phát triển nhà mới ở khu ngoại ô gần Hồ Tây của Hà Nội ngày nay.

Bà hình như đã được dạy dỗ về văn học cổ điển. Tên của bà, mà có thể có nguồn gốc từ cái làng bà đã lớn lên, có nghĩa là “Hương mùa Xuân”. Giữa năm 1815 và 1818, bà dường như đã nhiều lần tới vãng cảnh Vịnh Hạ Long. Năm 1819, theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi thuộc Viện Văn học ở Hà Nội, có một tài liệu chính thức nói tới “hầu thiếp Hồ Xuân Hương,” trong khi một bản thảo khác (“Xuân đường đàm thoại,” 1974) nói tới cuộc trò chuyện vào năm 1869 giữa các nho sĩ tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó một trong số họ, tới muộn, nói ông ta “vừa mới tới từ đám tang của Hồ Xuân Hương.” Quả thực, tài liệu tham khảo năm 1819 nói tới Hồ Xuân Hương, đã được ghi trong Hoàng Xuân Hãn (tr. 869), là một phần của bản ghi về việc hành hình chồng bà do ăn hối lộ. Chồng bà, Trần Phúc Hiển, tri phủ Yên Quảng, đã bị hành hình theo lệnh nhà vua. Bản ghi viết “(Kỳ tiểu thiếp XUÂN HƯƠNG năng văn, chính sự. THỜI XƯNG tài nữ. THAM HIỆP thường sử can dự ngoại sự. THỦ DUNG tố kỵ chi.)” (Hoàng Xuân Hãn, tr. 868 – chữ viết hoa là của Hoàng Xuân Hãn).” (Ghi trong ngoặc cũng của Hoàng Xuân Hãn) “Vợ bé ông tên là XUÂN HƯƠNG, giỏi về văn chương và chính trị; bấy giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan Tham Hiệp thường sai Nàng dự vào việc quan. Viên án thủ Dung vốn sợ ghét Nàng…” (HXH, p. 869).

Nhưng có lẽ bà đã chết vào đầu những năm 1820. Vào năm 1842, chúng ta có bài thơ đáng chú ý của em vua Thiệu Trị trong cuộc viếng thăm hoàng gia tới Hà Nội.

Bản Hán Việt
Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn

Tịnh đầu liên hoa khai mãn trì
Hoa nô chiết khứ cung thần bì
Thảo hướng Xuân Hương lăng thượng quá
Tuyền đài hữu hận thác xuất ti,
Truỵ phấn, tàn chi thổ nhất oánh
Xuân Hương quy khứ thảo thanh thanh
U hồn biệt để kim như tuý
Cơ độ xuân phong suý bất tình.
Đầu hồ rực rỡ hoa sen,
Sai người xuống hái để lên cúng dàng.
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương,
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng.
Son tàn, phấn rữa, mồ hoang,
Xuân Hương đã khuất, bên đàng cỏ xanh.
U hồn say tít làm thinh,
Gió xuân mấy độ thổi tình không hay.

Dù các sự kiện của đời bà là bất kì cái gì, một truyền thuyết về ý nghĩa và sự nhất quán văn hoá giầu có đã nổi lên. Truyền thuyết nói rằng cái chết sớm của bố bà đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới gia đình, làm chấm dứt việc học hành của Hồ Xuân Hương và giới hạn cơ hội hôn nhân của bà. Truyền thuyết nói rằng đôi khi bà có mở hiệu trà ở Thăng-Long, tên xưa của Hà Nội. Nổi tiếng về khả năng của mình trong việc ứng khẩu thơ Đường luật, bà thường hay bị các chàng sĩ tử đi thi đình thách đố. Một hôm một chàng sĩ tử và em mình tới cửa hàng của bà và bảo người hầu gái của Hồ Xuân Hương đi mời bà ra. Thay vì đi ra, Hồ Xuân Hương lại gửi ra vài câu thơ để yêu cầu viết thêm cho hoàn chỉnh, nhưng bài thơ lại khó đến mức khi đọc xong, chàng sĩ tử kia choáng váng ngất xỉu. Đây là điều nhục nhã tiềm tàng cho gia đình, nên người em ném anh mình xuống nước rồi lại vớt lên, và rồi thì chàng ta cũng hoàn tất bài thơ và người hầu gái đưa lại cho Hồ Xuân Hương, vẫn ở phía sau quán trà. “Cũng được đấy,” người ta đồn bà nói vậy, và cưới chàng ta, ông phủ Vĩnh Tường tương lai. Cuộc hôn nhân này, nếu người ta chấp nhận những tình cảm đó trong bài “Khóc ông phủ Vĩnh Tường,” là một tình cảm thực, nhưng chỉ kéo dài hai mươi bẩy tháng. Cuộc hôn nhân thứ hai là với một viên quan, người mà bà chế nhạo là “ông Cóc” trong bài điếu văn của mình “Khóc ông Tổng Cóc.” Giống như mẹ mình, Hồ Xuân Hương là vợ lẽ, hay hầu thiếp, một hoàn cảnh mà bà rất phẫn nộ.

Truyền thuyết cứ thế tiếp tục. Các học giả như Hoàng Xuân Hãn về sau gợi ý rằng, với bằng chứng về niên đại học, thì bà không thể thực tế là vợ ông phủ Vĩnh Tường được, hay đấy là người đàn bà khác, nhưng bà đã nói lên tiếng nói của họ. Những người khác, như Đào Thái Tôn, gợi ý rằng nhiều bài thơ được coi là của bà thì đã do những người khác viết ra, những người đơn giản không dám gắn tên mình vào chúng. Theo cách nhìn này, từ việc thừa nhận ban đầu về bà, Hồ Xuân Hương đã nêu một tiếng nói duy nhất cho những vấn đề vốn bị cấm ngặt phổ biến trong bàn bạc đạo Khổng.

Dù sự kiện của cuộc đời bà có là gì đi chăng nữa, trong hết bài thơ nọ tới bài thơ kia chúng ta đều nghe thấy việc bà phàn nàn về hôn nhân. Bà có quá tân tiến không, bà tự hỏi trong một bài thơ, có quá trơ trẽn lấy chồng không? Điều bà tìm kiếm, và rõ ràng chẳng tìm thấy, là một cuộc hôn nhân bình đẳng, điều bao hàm cái gì đó hoàn toàn phi thường và phổ biến trong tâm trí người Việt Nam: duyên. Duyên là khái niệm lãng mạn mà người phương Tây gọi là “tình yêu thực sự.” Duyên là “tình yêu định mệnh,” là mối ràng buộc được tạo ra trên trời mạnh đến mức hai người yêu nhau mà “có” duyên thì có thể trải qua nhiều kiếp hoá thân liên tiếp chừng nào mà họ còn chưa được gắn bó với nhau không tách rời. Không có được điều này, Hồ Xuân Hương phải giải quyết chỗ cư ngụ và dục, nhưng ngay cả điều sau này cũng không tin cậy được, nếu người ta lấy tình cảm tiểu sử từ bài “Lấy chồng chung.”

Hồ Xuân Hương cũng viết một cách gượng ép về từ bi, đặc biệt theo nghĩa Phật giáo về tình yêu cá nhân và sự hi sinh cho người khác. Giống như phần lớn người Việt Nam, bà chắc là một Phật tử Đại thừa theo A di đà, môn phái mà hình ảnh chính là Phật Tây phương an bình, người ta có thể đi tới đó bằng việc hoàn thiện bản thân mình trong cuộc đời để cho khi chết người ta có thể sống ở Tây phương cực lạc, vẫn được hình dung là cõi giới tâm linh đâu đó bên “phương Tây” theo hướng của Ấn Độ, nơi mà Phật giáo ngụ đầu tiên. Cứ cho là bà không may trong hôn nhân và bà chán ghét cái cảnh “vợ hai”, thì việc đi vào tu hành Phật giáo có thể đã cho bà cả chỗ trú ngụ lẫn sự thực hiện tâm linh. Thay vì vậy, bà lại thấy sự thối nát của các thể chế tôn giáo vào thời mình và bà ném ra những lời nói kháy tinh quái nhất vào giới tăng lữ suy đồi, lười biếng và dễ bị hối lộ. Tại chùa Trấn Quốc, bà “đau đớn” nghĩ tới những anh hùng trong quá khứ của Việt Nam và thấy các sư chỉ như “lũ cạo đầu,” quên đi “món nợ tình” của họ. Tại chùa Quán Sứ, “Chùa các Sứ thần,” bà tới thiền nhưng thấy chỗ ấy vắng teo. Bỏ qua tôn giáo thể chế hoá, nhưng vẫn giữ lấy giới luật Phật giáo, bà đi lang thang vào các vùng quê để tìm chốn đơn độc gợi hứng cho một số bài thơ đầy vẻ trữ tình tâm linh và để lộ lòng từ bi(“Cô ấy đã du hành như một người đàn ông trong một xã hội mà phụ nữ là người ẩn dật,” Hữu Ngọc và Franỗoise Corrốze viết. Vào tháng hai năm 1999, lần theo một số đường du hành của cô, tôi đã ngạc nhiên về khoảng cách và vùng đất gồ ghề mà cô đã gặp phải). “Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ,” bà nói trong “Cảnh Thu.” Đâu đó khác, bà tuyên bố rằng cực lạc “là đây, chín rõ mười,” và đôi khi chúng ta có thể thấy “Một vũng tang thương nước lộn trời.”

Đài Khán Xuân

Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời,
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.


Tiểu Sử Nữ Sỹ HỒ XUÂN HƯƠNG – Chua Xót Số Phận 5 Lần 7 Lượt Chỉ Làm Lẽ


Tiểu Sử Nữ Sỹ HỒ XUÂN HƯƠNG – Chua Xót Số Phận 5 Lần 7 Lượt Chỉ Làm Lẽ
Văn học sử Việt Nam ta có ghi ba nữ sĩ nổi danh: Đoàn Thị Điểm, Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương. Trong đó bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương không nổi tiếng nhất thì cũng là vị tài nữ dị thường hơn cả. Dị thường đến độ tác phẩm được cái vinh dự ít có, là ko có trong hầu hết các sách giáo khoa! Vì thi văn của nàng, nếu cho là phóng đãng, thì phẩm từ này chỉ là lối nói giảm nói tránh mà thôi.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Thủ Thuật
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Thủ Thuật

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Check Also
Close
Back to top button